CÂU ĐỐI

Câu đối thuộc về lạo văn biền ngẫu, gồm hai vế đối nhau biểu thị một ý chí, qua điểm tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, sự việc nào đó trong đời sống xã hội.

Lưu ý : Từ “đối” ở đây có nghĩa là “ngang nhau hợp thành một đôi. Câu đối là một trong những thể loại của văn học Việt Nam, Trung Quốc, Nhâtj Bản và Hàn Quốc.a

Nguồn gốc câu đối từ người Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi câu đối là đối liên (對聯) tên gọi xưa là đào phù  (桃符).

Câu đối được xem là tinh hoa của văn hóa chữ hán. Người Trung Quốc quan niệm. Nếu văn thơ là của tinh hoa đất trời là chữ nghĩa, thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa.

Đối liên có lịch sử ra đời 3000 năm, theo Tống sử thục thế gia (宋史蜀世家), câu đối đầu tiên được ghi lại do chính chúa nhà Hậu Thục (934-965) là Mạnh Sưởng viết trên tấm gỗ đào vào năm 959

Nguyên bản:           Phiên âm :                                                                   Dịch thơ:
新年納餘慶            Tân niên nạp dư khánh                                        Năm mới thừa chuyện vui
嘉節號長春             Gia tiết hiệu trường xuân                                     Tiết đẹp xuân còn mãi

Khi viết câu đối, nếu chọn được những câu chữ theo nguyên tắc thì đôi câu đối được gọi là chỉnh đối hay đối cân

Đối ýđối chữ

+ Đối ý: hai vế đối phải cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau

+ Đối chữ: xét hai phương diện thanh và loại

  • Về thanh: thanh bằng đối với thanh trắc và ngược lại
  • Về loại: thực tự phải đối với tự thực, hư tự phải đối với hư tự, danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ.

vế câu đối.

Một câu đối bao gồm 2 câu đi song song nhau, mỗi câu một vế. Nếu câu do một người sáng tác thì đó là vế trên và vế dưới. Câu đối được 2 người làm gọi là vế ra và vế đối.

Số chữ và các thể câu đối

Số chữ trong câu đối nhất định số từ , theo số chữ và cách đặt câu có thể chia câu đối ra thành các thể sau:

  • Câu tiểu đối: là những câu có 4 chữ trở xuống
  • Câu đối thơ: là những câu làm theo lối của đặt thơ ngũ ngôn hoặc thất ngô.
  • Câu đối phú: là những câu làm theo các lối đặt câu của thể phú gồm có:

-Lối câu song quan: l à những câu gồm có 6 đến 9 chữ đặt thành một đoạn liền

-Lối câu cách cú: là những câu mà mỗi vế chia làm hai đoạn một đoạn ngắn, một đoạn dài.

-Lối câu gối hạc hay hạc tất: là những câu mỗi vế có 2 đoạn trở lên.

Câu đối Việt Nam

Một câu đối Tết tiếng Việt, viết theo lối thư pháp chữ Việt, tại Đường hoa Nguyễn Huệ 2009: “Tân niên hạnh phúc bình an tiến / Xuân nhật vinh hoa phú quý lai”

Câu đối khắc trên ván cẩn vỏ ốc, dùng treo hai bên tủ thờ
Câu đối Việt Nam được Dương Quảng Hàm phân loại theo ý nghĩa, gồm các loại sau:

Câu đối mừng: làm để tặng người khác trong những dịp vui mừng như: mừng thọ, mừng thi đỗ, mừng đám cưới, mừng nhà mới…
Câu đối phúng: làm để viếng người chết.

Câu đối Tết: làm để dán nhà, cửa, đền, chùa…về dịp Tết Nguyên Đán.

Câu đối thờ: là những câu tán tụng công đức tổ tiên hoặc thần thánh làm để dán hoặc treo những chỗ thờ.

Câu đối tự thuật: là những câu kể ý chí, sự nghiệp của mình và thường dán ở những chỗ ngồi chơi.

Câu đối đề tặng: là những câu đối làm ra để đề vào chỗ nào đó hoặc tặng cho người khác.

Câu đối tức cảnh: là những câu tả ngay cảnh trước mắt.

Câu đối chiết tự (chiết: bẻ gãy, phân tách; tự: chữ): là những câu do sự tách chữ Hán hoặc chữ Nôm ra từng nét hoặc từng phần mà đặt thành câu.

Câu đối trào phúng: là những câu làm để chế diễu, châm chích một người nào đó.

Câu đối tập cú: là những câu lấy chữ sẵn ở trong sách hoặc ở tục ngữ, ca dao.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CÂU ĐỐI

 

>> Xem thêm:

câu đối nhà thờ họ 

Mẫu câu đối nhà thờ họ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *